Đăng Nguyen
Phụ Xế
- Bài viết
- 73
- Loại bài
- Bài dịch
Mẫu ID.3 GTX mang công suất 322 mã lực cũ được đổi tên thành "GTI" trong dải sản phẩm facelift, mang các điểm nhấn thiết kế của ID. Polo GTI và chế độ lái GTI chuyên biệt. ID.3 GTI sở hữu mô-tơ đơn đặt ở phía sau và có thể bứt tốc từ 0-100 km/h trong 5,6 giây. Bộ pin thực 79 kWh mang lại tầm hoạt động đạt 601 km và hỗ trợ sạc nhanh lên tới 183 kW.
Volkswagen đã kỷ niệm nửa thế kỷ huy hiệu "GTI" của mình vào đầu năm nay với sự ra mắt của mẫu hatchback thuần điện đầu tiên mang ba chữ cái này - chiếc ID. Polo GTI. Do đó, ID.3 GTI mới là chiếc GTI thuần điện thứ hai trong lịch sử thương hiệu. Tuy nhiên ID.3 GTI là mẫu xe tiên phong của dòng VW GTI khi sức mạnh truyền xuống bánh sau, thay vì bánh trước.
Dòng hatchback thuần điện ID.3 tại châu Âu đã được "đại tu" vào tháng 4 và đổi tên thành "ID.3 Neo". Phiên bản GTI là mẫu xe biểu tượng của dải sản phẩm mới này và thực chất chính là bản GTX trước khi nâng cấp giữa vòng đời (facelift), nhưng lần này được gắn huy hiệu "GTI" và thừa hưởng một số nét thiết kế vay mượn từ ID. Polo GTI.
Dải màu đỏ đặc trưng của dòng GTI nối liền cụm đèn pha ma trận LED IQ.Light, trong khi lưới tản nhiệt bên dưới dạng tổ ong sơn đen bóng được điểm xuyết bởi một cặp chi tiết sơn đỏ mô phỏng móc kéo xe đua.
Tạo sự tương phản với lớp sơn đỏ Tornado, đậm chất GTI kinh điển của thập niên 1980 là bộ mâm 20 inch Wörthersee màu đen cùng ốp gương chiếu hậu cũng sơn màu đen. Khác với bản GTX, phiên bản GTI sở hữu phần mui xe, cánh gió sau và tấm ốp thân sau đồng màu với thân xe.
Trang bị giữ nguyên từ GTX là khối mô-tơ điện đơn sản sinh công suất 322 mã lực, vượt qua Golf GTI Edition 50 để trở thành động cơ GTI mạnh mẽ nhất, với khoảng cách 1 mã lực. Khác với ID. Polo GTI vốn sử dụng nền tảng dẫn động cầu trước MEB+ mới của Volkswagen, ID.3 vận hành trên nền tảng MEB cũ hơn được chia sẻ với các dòng xe như ID.4 và ID. Buzz.
Đồng nghĩa với việc mô-tơ đơn truyền sức mạnh xuống các bánh sau, với thông số tăng tốc từ 0 lên 100 km/h là 5,6 giây, giống với GTX Performance cũ. Trong khi đó Polo GTI công suất 223 mã lực mất 6,8 giây và phiên bản động cơ xăng GTI Edition 50 là 5,3 giây.
Bộ pin dung lượng thực 79 kWh đặt dưới sàn xe có khả năng sạc ở mức công suất 183 kW, nạp đầy từ 10 lên 80% trong vòng 29 phút, và mang lại tầm hoạt động 601 km (373 dặm) theo chuẩn WLTP. Trong khi đó, Polo chỉ đạt 424 km (263 dặm) từ gói pin dung lượng 52 kWh.
GTI không đơn thuần GTX được nâng cấp cho có, Volkswagen đã biến chiếc xe trở nên vượt trội nhờ bản tinh chỉnh dành riêng cho GTI từ hệ thống giảm xóc thích ứng DCC, lò xo và các thanh chống lật.
Thậm chí còn có chế độ lái GTI Mode giúp chuyển động cơ, độ nhạy chân ga, hệ thống lái và khung gầm sang trạng thái 'cực đoan' tối đa, khi kích hoạt bằng cách nhấn vào nút điều khiển đặt tại vô-lăng thể thao.
Không có vạch đánh dấu 12 giờ mang phong cách thể thao tốc độ, bộ ghế ngồi thể thao phối ba màu đỏ, đen và xám. Dù vậy, bản GTI vẫn có những nâng cấp tương tự dòng ID.3 tiêu chuẩn như vật liệu cao cấp hơn, các nút bấm trên vô-lăng có cơ chế bấm, một dãy phím cơ học nằm bên dưới màn hình cảm ứng 12,9 inch.
Mức giá của ID.3 GTI 2027 tại châu Âu chưa được Volkswagen tiết lộ. Trước đó phiên bản GTX Performance cũ có giá hơn 46.000 bảng Anh khoảng 62.000 USD quy đổi 1,61 tỷ đồng, cao hơn Golf GTI, đắt hơn cả phiên bản R hiệu suất cao.
Tham khảo Volkswagen
